Đô thị là một khái niệm quen thuộc, gắn liền với sự phát triển của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ bản chất và các tiêu chí để xác định một đô thị theo quy định pháp luật. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, việc phân loại đô thị trở thành một yếu tố quan trọng nhằm quản lý và phát triển bền vững. Bài viết này, Ngô Gia Holdings sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về khái niệm đô thị, đồng thời giải thích cách phân loại đô thị theo quy định pháp luật hiện hành.

Đô thị là gì?
Theo quy định tại Điều 3 của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực có dân cư sinh sống đông đúc, hoạt động kinh tế chủ yếu không thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Đây là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên môn, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương. Đô thị bao gồm các khu vực như nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; và thị trấn.
Như vậy, đô thị có thể hiểu là khu vực có mật độ dân cư cao, hoạt động chính là các ngành phi nông nghiệp, đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Nguyên tắc phân loại đô thị
Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết 26/2022/UBTVQH15 sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13 quy định các nguyên tắc phân loại đô thị như sau:
- Phân loại đô thị được thực hiện dựa trên các quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và chương trình phát triển đô thị ở từng cấp, nhằm đảm bảo phù hợp với các giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội.
- Việc phân loại dựa trên mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn và tiêu chí của từng loại đô thị. Đồng thời, đánh giá mức độ phát triển của cơ sở hạ tầng đô thị theo loại đô thị tương ứng.
- Đối với khu vực dự kiến hình thành đô thị, quá trình phân loại sẽ đánh giá trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, và đây là một trong những yếu tố để quyết định việc thành lập, nhập, chia hoặc điều chỉnh địa giới hành chính đô thị.
- Phân loại đô thị áp dụng cho từng khu vực địa phương, dựa vào yếu tố đặc thù, và thực hiện qua việc tính điểm tổng hợp các tiêu chí.

Ai có thẩm quyền quyết định phân loại đô thị?
Theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13, quyền quyết định về phân loại đô thị được phân chia như sau:
- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định công nhận đô thị thuộc loại đặc biệt, loại I và loại II.
- Bộ trưởng Bộ Xây dựng có thẩm quyền quyết định công nhận đô thị loại III và loại IV.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền công nhận đô thị loại V.
Như vậy, quyền công nhận đô thị được phân cấp từ cấp trung ương tới cấp tỉnh, tùy thuộc vào loại đô thị.
Phân loại và đặc điểm của các loại đô thị Việt Nam
Theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, đã được sửa đổi bởi Nghị quyết 26/2022/UBTVQH15, hệ thống đô thị được phân thành nhiều loại khác nhau.
Đô thị đặc biệt
Vị trí | Là Thủ Đô hoặc là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về các lĩnh vực kinh tế, tài chính, giáo dục, dịch vụ, du lịch, giao thông vận tải. |
Vai trò | Là đầu mối giao lưu trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. |
Số dân | Từ 5.000.000 trở lên |
Mật độ dân số | 3.000 người/km² |
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp | 70% trở lên , khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên |
Thu nhập bình quân đầu người của đô thị so với cả nước | Lớn hơn 3 lần |
Tại Việt Nam, hiện có hai đô thị đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội, cả hai đều đáp ứng các tiêu chuẩn và tiêu chí đã đề ra cho loại đô thị này.

Đô thị loại I
Vị trí | Là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp tỉnh về lĩnh vực kinh tế, tài chính, giáo dục, dịch vụ, du lịch và giao thông vận tải. |
Vai trò | Thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng liên tỉnh hoặc cả nước. |
Số dân | Từ 500.000 người trở lên |
Mật độ dân số | 2.000 người/km² |
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp | 65% trở lên |
Thu nhập bình quân đầu người của đô thị so với cả nước | Lớn hơn 2,1 lần |
Tính đến thời điểm hiện tại, các đô thị loại I tại Việt Nam bao gồm:
- 3 thành phố trực thuộc trung ương: Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ.
- 19 thành phố trực thuộc tỉnh: Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Hạ Long, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh, Huế, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Pleiku, Đà Lạt, Vũng Tàu, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Long Xuyên.

Đô thị loại II
Vị trí | Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, chuyên vùng cấp tỉnh về lĩnh vực kinh tế, tài chính, giáo dục, dịch vụ, du lịch và giao thông vận tải. |
Vai trò | Thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh. |
Số dân | Từ 200.000 người trở lên |
Mật độ dân số | 2.000 người/km² |
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp | 65% trở lên |
Thu nhập bình quân đầu người của đô thị so với cả nước | Lớn hơn 1,75 lần |
Hiện nay, Việt Nam có tổng cộng 33 đô thị loại II, bao gồm các thành phố và thị xã sau: Cà Mau, Phan Thiết, Uông Bí, Tuy Hòa, Rạch Giá, Thái Bình, Bạc Liêu, Ninh Bình, Phú Quốc, Đồng Hới, Vĩnh Yên, Lào Cai, Bà Rịa, Bắc Giang, Phan Rang – Tháp Chàm, Châu Đốc, Cẩm Phả, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Sa Đéc, Trà Vinh, Móng Cái, Bến Tre, Phủ Lý, Hà Tĩnh, Sơn La, Lạng Sơn, Tân An, Cao Lãnh, Vị Thanh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Tuyên Quang.

Đô thị loại III
Vị trí | Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về lĩnh vực kinh tế, tài chính, giáo dục, dịch vụ, du lịch và giao thông vận tải cấp tỉnh |
Vai trò | Thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh hoặc vùng liên tỉnh. |
Số dân | Từ 100.000 người trở lên |
Mật độ dân số | 1.400 người/km² |
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp | 60% trở lên |
Thu nhập bình quân đầu người của đô thị so với cả nước | Lớn hơn 1,05 lần |
Tại Việt Nam, đô thị loại III bao gồm 27 thành phố và 18 thị xã, cụ thể như sau:
- 27 thành phố: Điện Biên Phủ, Hội An, Tây Ninh, Sầm Sơn, Hòa Bình, Hưng Yên, Bảo Lộc, Cam Ranh, Lai Châu, Sông Công, Bắc Kạn, Đông Hà, Đồng Xoài, Phúc Yên, Hà Giang, Hà Tiên, Chí Linh, Cao Bằng, Gia Nghĩa, Long Khánh, Tam Điệp, Thuận An, Từ Sơn, Phổ Yên, Ngã Bảy, Hồng Ngự, Tân Uyên.
- 18 thị xã: Cửa Lò, Bỉm Sơn, La Gi, Cai Lậy, Sông Cầu, Tân Châu, Quảng Yên, Bình Minh, Kỳ Anh, Phú Mỹ, Kiến Tường, Phú Thọ, Đông Triều, Sơn Tây, Gò Công, Bến Cát, An Nhơn, Long Mỹ.
Đô thị loại IV
Vị trí | Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về lĩnh vực kinh tế, tài chính, giáo dục, dịch vụ, du lịch và giao thông vận tải. |
Vai trò | Thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, huyện và các vùng liên huyện. |
Số dân | Từ 50.000 người trở lên |
Mật độ dân số | 1.200 người/km² |
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp | 55% trở lên |
Thu nhập bình quân đầu người của đô thị so với cả nước | Lớn hơn 0,7 lần |
Đô thị loại IV tại Việt Nam bao gồm 32 thị xã, 2 huyện và 54 thị trấn, cụ thể như sau:
- 32 thị xã: Mường Lay, Quảng Trị, Hồng Lĩnh, Nghĩa Lộ, An Khê, Thái Hòa, Buôn Hồ, Hoàng Mai, Ayun Pa, Phước Long, Hương Trà, Hương Thủy, Ninh Hòa, Vĩnh Châu, An Nhơn, Trảng Bàng, Kiến Tường, Ba Đồn, Điện Bàn, Giá Rai, Hoài Nhơn, Duyên Hải, Mỹ Hào, Kinh Môn, Ngã Năm, Sapa, Duy Tiên, Đức Phổ, Hòa Thành, Đông Hòa, Nghi Sơn.
- 2 huyện: Tịnh Biên và Chơn Thành.
- 54 thị trấn: Núi Sập, Phú Mỹ, Chợ Mới, Thắng, Phố Mới, Ba Tri, Bình Đại, Phú Phong, Phan Rí Cửa, Năm Căn, Sông Đốc, Ea Kar, Buôn Trấp, Phước An, Ea Drăng, Đắk Mil, Ea T’ling, Kiến Đức, Long Thành, Trảng Bom, Mỹ An, Lấp Vò, Mỹ Thọ, Chư Sê, Việt Quang, Lương Sơn, Như Quỳnh, Diên Khánh, Vạn Giã, Kiên Lương, Plei Kần, Đồng Đăng, Liên Nghĩa, Bến Lức, Hậu Nghĩa, Đức Hòa, Cần Đước, Cần Giuộc, Thịnh Long, Hoàn Lão, Kiến Giang, Cái Rồng, Tiên Yên, Hát Lót, Mộc Châu, Lam Sơn – Sao Vàng, Ngọc Lặc, Diêm Điền, Hùng Sơn, Thuận An, Tiểu Cần.
Như vậy, đô thị không chỉ là một khái niệm quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc định hình cuộc sống của người dân. Việc phân loại đô thị theo quy định pháp luật giúp quản lý hiệu quả và phát triển bền vững các khu vực đô thị. Qua các loại đô thị từ đặc biệt đến loại IV, mỗi loại đều có những đặc điểm và tiêu chí riêng, phản ánh sự đa dạng và phong phú của các khu vực đô thị trên cả nước. Hiểu rõ về đô thị và cách phân loại của chúng sẽ hỗ trợ trong việc hoạch định chính sách, đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng, từ đó nâng cao chất lượng sống cho cư dân và góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Hy vọng bài viết Ngô Gia Holdings chia sẻ đã mang lại cho bạn đọc những thông tin hữu ích!