Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là gì?

Tôn giáo và tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Do đó, việc quản lý đất đai dành cho các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng luôn được quan tâm đặc biệt. Vậy, đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là gì? Bài viết này Ngô Gia Holdings sẽ cung cấp cho bạn những thông tin cơ bản về loại đất đặc biệt này.

Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là gì?
Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là gì?

Khái niệm Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là gì?

Căn cứ Điều 159 và Điều 160 của Luật Đất đai 2013:

Điều 159. Đất cơ sở tôn giáo

  1. Đất cơ sở tôn giáo bao gồm các loại đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, và các cơ sở tôn giáo khác được Nhà nước cho phép hoạt động.
  2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ dựa trên chính sách tôn giáo của Nhà nước, quy hoạch, và kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt để quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo.

Điều 160. Đất tín ngưỡng

  1. Đất tín ngưỡng bao gồm các loại đất có công trình như đình, đền, miếu, am, từ đường, và nhà thờ họ.
  2. Việc sử dụng đất tín ngưỡng phải tuân thủ mục đích sử dụng, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được phê duyệt.
  3. Việc xây dựng và mở rộng các công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, và nhà thờ họ của cộng đồng phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Như vậy, sự khác biệt rõ ràng nhất giữa hai loại đất này là: Đất cơ sở tôn giáo bao gồm các loại đất thuộc về chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, và trường đào tạo riêng của tôn giáo, trong khi đất tín ngưỡng bao gồm các công trình như đình, đền, miếu, am, từ đường, và nhà thờ họ.

Đất tôn giáo khác với đất tín ngưỡng như thế nào?
Đất cơ sở tôn giáo khác với đất tín ngưỡng như thế nào?

Phân biệt đất cơ sở tôn giáo và đất tín ngưỡng

Theo quy định trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016, việc quản lý và sử dụng đất cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo phải tuân theo các quy định của pháp luật về đất đai.

Đặc điểm

Đất cơ sở tôn giáo

Đất tín ngưỡng

Về người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất.Theo Khoản 4 Điều 7 Luật Đất đai 2013: Người đứng đầu cơ sở tôn giáo chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc sử dụng đất đã giao cho cơ sở tôn giáo.Theo Khoản 3 Điều 7 và Điều 100 Luật Đất đai 2013: Người đại diện cho cộng đồng dân cư là trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố hoặc người được cộng đồng dân cư thỏa thuận cử ra chịu trách nhiệm sử dụng đất có công trình tín ngưỡng.
Về việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.Theo Khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai 2013: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp.Theo Khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai 2013: Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp thì được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, nhưng không quy định tương tự đối với đất có công trình tín ngưỡng.
Về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.Theo Khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai 2013: UBND cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo.Theo Khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai 2013: UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cộng đồng dân cư.
Về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đấtKhoản 2 Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định:

“Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp” thì sẽ được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xá hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.Theo Khoản 4 Điều 102 Luật Đất đai 2013: Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu được Nhà nước cho phép hoạt động, không có tranh chấp, và không phải là đất nhận chuyển nhượng sau ngày 01/07/2004.Theo Khoản 5 Điều 100 Luật Đất đai 2013: Cộng đồng dân cư sử dụng đất có công trình tín ngưỡng sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đất đó không có tranh chấp và được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng.
Về nhận quyền sử dụng đất.Theo Khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013:

Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo có thể nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận tặng cho, thừa kế, giao đất của Nhà nước, công nhận quyền sử dụng đất đang được sử dụng ổn định hoặc theo kết quả hòa giải tranh chấp đất đai được cơ quan nhà nước công nhận.

Quyền và nghĩa vụ của cơ sở tôn giáo và cộng đồng dân cư sử dụng đấtTheo Điều 181 Luật Đất đai 2013:

Cơ sở tôn giáo và cộng đồng dân cư sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ chung theo quy định tại Điều 166 và Điều 170 của luật này.

Cơ sở tôn giáo và cộng đồng dân cư không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; cũng không được sử dụng đất để thế chấp hoặc góp vốn.

Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.Theo Khoản 1 Điều 191 Luật Đất đai 2013:

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho quyền sử dụng đất trong các trường hợp mà pháp luật không cho phép.

Thời hạn sử dụng đấtSử dụng ổn định, lâu dài. (khoản 7, 8 Điều 125 Luật đất đai 2013)

Như vậy, so với đất tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo được quy định chi tiết và cụ thể hơn trong pháp luật đất đai. Đất cơ sở tôn giáo có chủ thể sử dụng rõ ràng, trong khi Luật Đất đai 2013 không quy định cụ thể về việc cộng đồng dân cư sử dụng đất tín ngưỡng mà chỉ thông qua Điều 100 mới thấy được quy định này. Cộng đồng dân cư được phép sử dụng cả đất tín ngưỡng (đất phi nông nghiệp) và đất nông nghiệp, nhưng không có quy định riêng cho từng trường hợp. Về việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, chỉ có quy định về việc cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp và cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp, còn cộng đồng dân cư sử dụng đất phi nông nghiệp thì không thấy có quy định cụ thể.

Tuy nhiên, cả hai loại đất này có điểm chung là:

  • Thứ nhất, đều là đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao (sau ngày 1/7/2004) hoặc đang được sử dụng cho mục đích xây dựng chùa, nhà thờ, đình, đền, miếu, v.v. Chủ thể sử dụng đất cơ sở tôn giáo là tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động. Nếu một tổ chức tôn giáo tồn tại mà không được Nhà nước cho phép hoạt động, tổ chức đó sẽ không được Nhà nước công nhận.
  • Thứ hai, quyền sử dụng đất của cả cơ sở tôn giáo và đất tín ngưỡng đều bị hạn chế.

Trên đây là những thông tin về đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là gì, cùng những quy định về pháp luật liên quan. Đây là hai loại đất đóng vai trò thiết yếu trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Bảo vệ và phát huy giá trị của loại đất này là trách nhiệm chung của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Hãy chung tay gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp này cho thế hệ mai sau. Hy vọng bài viết Ngô Gia Holdings tổng hợp đã mang lại cho bạn đọc những thông tin hữu ích!

Ngô Gia Holdings

Công Ty Ngô Gia Holdings được thành lập năm 2024. Với tôn chỉ hoạt động: Trọn chữ TÍN, vẹn niềm TIN, chúng tôi đã nỗ lực trở thành kênh tư vấn tin cậy, mang đến cho khách hàng những dự án, sản phẩm đầu tư chất lượng và tiềm năng sinh lời cao nhất