Đất chưa sử dụng là một loại tài nguyên quan trọng, có tiềm năng phát triển lớn nhưng chưa được khai thác hoặc phân bổ cụ thể cho mục đích nào. Trong bối cảnh phát triển kinh tế và đô thị hóa mạnh mẽ, việc quản lý và sử dụng hiệu quả đất chưa sử dụng đã trở thành một vấn đề cần được quan tâm. Các quy định liên quan đến loại đất này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp lý và bền vững của việc phân bổ, khai thác tài nguyên đất, đồng thời giúp cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Hãy cùng Ngô Gia Holdings tìm hiểu chi tiết trong bài viết này!

Đất chưa sử dụng là gì?
Theo khoản 3 Điều 10 của Luật Đất đai 2013, đất chưa sử dụng là những loại đất chưa được phân định mục đích sử dụng cụ thể.
Loại đất này bao gồm những khu vực chưa đủ điều kiện hoặc chưa được xác định để sử dụng cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, hay chưa được xác định làm đất khu dân cư nông thôn, đô thị hoặc đất chuyên dùng. Đồng thời, đất này chưa được Nhà nước giao cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng một cách ổn định và lâu dài.
Như vậy, đất chưa sử dụng là những mảnh đất chưa được đưa vào bất kỳ loại hình sử dụng nào, bao gồm cả nhóm đất nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Phân loại đất chưa sử dụng
Theo quy định tại Thông tư 27/2018/TT-BTNMT, đất chưa sử dụng được chia thành ba loại chính: đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây.
- Đất bằng chưa sử dụng (mã SCD): Là loại đất nằm ở các khu vực bằng phẳng như đồng bằng, thung lũng hoặc cao nguyên nhưng chưa được khai thác sử dụng.
- Đất đồi núi chưa sử dụng (mã DCS): Là những vùng đất có địa hình dốc tại khu vực đồi núi, chưa được đưa vào sử dụng.
- Núi đá không có rừng cây (mã NCS): Là những khu vực núi đá trơ trọi, không có sự phát triển của rừng cây và chưa được sử dụng vào mục đích khác.

Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý đất chưa sử dụng
Theo Điều 164 Luật Đất đai 2013, trách nhiệm quản lý đất chưa sử dụng được phân chia như sau:
- UBND cấp xã chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ đất chưa sử dụng trên địa bàn mình, đồng thời phải cập nhật thông tin về các khu đất này vào hồ sơ địa chính.
- UBND cấp tỉnh đảm nhiệm việc quản lý đất chưa sử dụng trên các đảo không có người ở.
- Việc quản lý đất chưa sử dụng phải tuân thủ các quy định của Chính phủ.
- Hàng năm, UBND cấp xã, phường, thị trấn phải gửi báo cáo tình hình quản lý và khai thác đất chưa sử dụng lên UBND cấp huyện, quận.
Như vậy, Ủy ban nhân dân ở các cấp địa phương là đơn vị có thẩm quyền quản lý đất chưa sử dụng. Quá trình đưa đất chưa sử dụng vào khai thác cần tuân thủ các quy định của pháp luật và quy hoạch đã được phê duyệt.
Quy định về việc đưa đất chưa sử dụng vào khai thác
Hạn mức giao đất
Theo Khoản 5, Điều 129 Luật Đất đai 2013, việc giao đất chưa sử dụng như đất trống, đồi núi trọc, và đất có mặt nước cho hộ gia đình, cá nhân để đưa vào khai thác phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được thực hiện theo hạn mức giao đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này. Những hạn mức này không được tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp đã quy định cho hộ gia đình và cá nhân. UBND cấp tỉnh sẽ quy định chi tiết hạn mức giao các loại đất này, dựa trên quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Thời hạn sử dụng đất chưa sử dụng
Theo Khoản 3 Điều 132 Luật Đất đai 2013, đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích cụ thể, UBND cấp xã có thể cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê thông qua hình thức đấu giá để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Thời hạn sử dụng cho mỗi lần thuê không quá 5 năm. Toàn bộ số tiền thu được từ việc cho thuê đất sẽ được nộp vào ngân sách Nhà nước và chỉ sử dụng cho các mục đích công ích tại xã, phường, thị trấn.
Đưa đất chưa sử dụng vào khai thác
Dựa trên quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước phê duyệt, UBND các cấp sẽ xây dựng kế hoạch đầu tư, khai hoang, phục hóa nhằm đưa đất chưa sử dụng vào khai thác. Nhà nước khuyến khích cá nhân, hộ gia đình, tổ chức tham gia đầu tư để đưa đất chưa sử dụng vào sản xuất theo quy hoạch. Đối với diện tích đất đã được quy hoạch cho mục đích nông nghiệp, ưu tiên giao cho các hộ gia đình và cá nhân tại địa phương có nhu cầu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, hoặc làm muối nhưng chưa có đất hoặc thiếu đất canh tác.

Các vấn đề liên quan đến đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng tại Việt Nam hiện nay
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 31/12/2020, tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước đạt 33,1 triệu ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp chiếm 27,9 triệu ha
- Đất phi nông nghiệp là 3,9 triệu ha
- Đất chưa sử dụng chiếm hơn 1,2 triệu ha.
Việc kiểm kê đất đai được thực hiện định kỳ 5 năm một lần, theo quy định tại Điều 34 Luật Đất đai 2013, và tuân thủ quy trình kiểm kê tại các đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn. Số liệu mới nhất cho thấy diện tích đất chưa sử dụng hiện nay khoảng 1.230.815 ha, một con số khá lớn. Để tránh lãng phí tài nguyên, Nhà nước đang áp dụng nhiều chính sách nhằm khuyến khích người dân đầu tư và cải tạo đất chưa sử dụng.
Quy hoạch đất chưa sử dụng
Quy hoạch đất chưa sử dụng là quá trình phân bổ và khoanh vùng quỹ đất này theo không gian nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường, và ứng phó với biến đổi khí hậu. Quy hoạch được dựa trên tiềm năng sử dụng đất và nhu cầu của các ngành, lĩnh vực đối với từng khu vực kinh tế – xã hội trong một khoảng thời gian xác định, thường là 5 hoặc 10 năm.
Biện pháp quản lý đất chưa sử dụng
UBND cấp xã chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ quỹ đất chưa sử dụng tại địa phương, đồng thời thực hiện thống kê, kiểm kê và đăng ký vào hồ sơ địa chính. Ngoài ra, cấp xã cũng cần lập kế hoạch sử dụng đất và báo cáo định kỳ lên UBND cấp huyện về tình hình quản lý và khai thác quỹ đất chưa sử dụng. Đối với đất chưa sử dụng tại các đảo không có người ở, trách nhiệm quản lý thuộc về UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Sau khi có quy hoạch và kế hoạch giao hoặc cho thuê đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất chưa sử dụng sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đất chưa có giấy chứng nhận thường rơi vào hai trường hợp:
- Đất chưa sử dụng được giao hoặc cho thuê theo quy định tại Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
- Người sử dụng đất chưa tuân thủ các thủ tục luật định.
Trong các trường hợp khác, nếu đủ điều kiện theo quy định pháp luật, đất sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Xử lý hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng
Lấn, chiếm đất là hành vi di dời ranh giới hoặc mốc giới của thửa đất nhằm mở rộng diện tích sử dụng mà không được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền hoặc chủ sở hữu hợp pháp của phần đất bị lấn.
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, mức xử phạt đối với hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng được quy định như sau:
*Đối với hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng ở khu vực nông thôn:
- Phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta.
- Phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta.
- Phạt từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta.
- Phạt từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta.
- Phạt từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với diện tích từ 1 héc ta trở lên.
* Đối với hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị:
Mức phạt gấp 2 lần mức xử phạt quy định cho các loại đất tương ứng tại khu vực nông thôn. Mức phạt tối đa là 500.000.000 đồng đối với cá nhân và 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.
Thu hồi đất chưa sử dụng
Theo Khoản 1 Điều 15 Luật Đất đai 2013, Nhà nước có quyền thu hồi đất trong các trường hợp sau:
- Để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia và cộng đồng.
- Do vi phạm pháp luật về đất đai.
- Khi chấm dứt việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật, hoặc khi có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
Như vậy, Nhà nước có thể thu hồi đất chưa sử dụng trong các trường hợp phục vụ lợi ích chung hoặc khi xảy ra vi phạm pháp luật liên quan đến đất đai, như cố tình hủy hoại đất, sử dụng sai mục đích, gây cản trở hoặc thiệt hại cho việc sử dụng đất.
Đất chưa sử dụng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên đất đai và phát triển kinh tế – xã hội. Việc hiểu rõ và tuân thủ các quy định này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cá nhân và tổ chức mà còn đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Hy vọng bài viết Ngô Gia Holdings chia sẻ đã mang lại cho bạn đọc những thông tin hữu ích!